Ban Quản Trị

Thứ năm, 28/02/2008, 04:43 GMT+7
Khái quát về tỉnh Vân Nam - Trung Quốc
- Tỉnh lỵ: Côn Minh
- Địa chỉ Văn phòng Chính phủ tỉnh: Số 135 đường Hoa Sơn Nam, thành phố Côn Minh.
- Điện thoại: 0871-3619773
Tên gọi tắt của Vân Nam là “Vân” hoặc “Điền” nằm ở biên giới Tây Nam của Trung Quốc. Tổng diện tích 39,4 vạn km2, chiếm 4,1% tổng diện tích toàn quốc. Phía đông giáp Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây và tỉnh Quý Châu, phía bắc trông sang tỉnh Tứ Xuyên qua con sông Kim sa, phía tây bắc giáp Khu tự trị Tây Tạng, phía tây giáp Myanma, phía nam và đông nam tiếp giáp với Lào và Việt Nam, có 4061 km đường biên giới trên đất liền.

VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

1. Độ cao so với mực nước biển:

Địa thế của tỉnh Vân Nam là phía bắc cao, phía nam thấp, chênh lệch độ cao lớn. Phía nam độ cao so với mặt nước biển nói chung là 1500-2200m, phía bắc khoảng 3000-4000m. Điểm cao nhất của tỉnh là đỉnh Khả Cách Phó trên núi tuyết Mai Lý có độ cao 6740m. Phía đông là cao nguyên Vân Quý, địa hình dần bằng phẳng. Điểm thấp nhất là Hà Khẩu - đoạn biên giới sông Hồng, có độ cao là 76,4m.

2. Điều kiện tự nhiên:

Vân Nam có tài nguyên thiên nhiên phong phú, được mệnh danh là “vương quốc thực vật”, “vương quốc động vật”, “vương quốc kim loại màu”, “quê hương của dược liệu”. Về thực vật: Vân Nam là tỉnh có nhiều chủng loại thực vật nhất trên toàn quốc, không những có các loài thực vật nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới, hàn đới, mà còn có rất nhiều loại thực vật cổ, diễn sinh, đặc biệt là những loài có nguồn gốc từ nước ngoài. Trong gần 30.000 loài thực vật cao cấp trong cả nước thì Vân Nam có 18.000 loài, chiếm trên một nửa tổng số loài của cả nước.

3. Khoáng sản:

Đến nay đã phát hiện trên 150 loại khoáng sản có thể dùng được, chiếm 93% các loại khoáng sản đã phát hiện trên toàn quốc, trong đó giá trị tiềm năng trữ lượng có thể đạt đến 3000 tỷ đồng. Tính theo giá trị tiềm năng thì khoáng sản nhiên liệu chiếm khoảng 40%, khoáng sản kim loại chiếm khoảng 7,3%, khoáng sản phi kim loại chiếm khoảng 52,7%. Khoáng sản đã thăm dò kỹ trữ lượng có 92 loại với 2700 điểm mỏ. Trong các loại khoáng sản trữ lượng lớn có 13% loại khoáng sản đứng đầu cả nước, 2/3 loại khoáng sản có vị trí quan trọng trong khu vực nam bộ và lưu vực sông Trường Giang. Trong đó khoáng sản đứng đầu cả nước có: kẽm, chì, thiếc, cadơmi, indi, thali, amiăng...

4. Nguồn tài nguyên nước:

Tỉnh Vân Nam có lượng mưa dồi dào, nhiều sông hồ, lượng mưa bình quân hàng năm là 222,2 tỷ m3, lượng nước quá cảnh khoảng 160 tỷ m3, cộng cả hai loại tính bình quân đầu người khoảng 1 vạn m3, gấp 4 lần lượng bình quân đầu người trong cả nước. Nguồn tài nguyên nước phong phú đã hình thành nên nguồn thuỷ năng phong phú, đồng thời trở thành ưu thế lớn nhất về nguồn năng lượng.

5. Tài nguyên du lịch:

 Vân Nam có nguồn tài nguyên du lịch phong phú đa dạng, khí hậu hợp với con người, phong cảnh tự nhiên như tranh vẽ và những màu sắc dân tộc đa dạng đã tạo nên một bức tranh đẹp làm say đắm lòng người.

DÂN SỐ

1. Thống kê dân số:

Năm 2006, tổng dân số trong toàn tỉnh là 44,83 triệu người; trong đó dân số thành thị 13,673 triệu người, dân số nông thôn 31,157 triệu người.

2. Phân bố dân tộc và tỷ lệ dân số:

Vân Nam là tỉnh có nhiều dân tộc nhất Trung Quốc. Cả nước có 56 dân tộc thì Vân Nam đã có 52 dân tộc. Dân tộc thiểu số chiếm 38,07% tổng dân số trong toàn tỉnh. Trên 20 dân tộc có số dân trên 8000 người, đó là các dân tộc: Di, Bạch, Hà Nhì, Choang, Thái, Mông, Lisu, Hồi, La Khố, Wả, Tây, Dao, Tạng, Cảnh Pha, Bố Lang, Phổ Mễ, Nộ, A Xương, Ki nô, Mông cổ, Độc long, Mãn, Thuỷ, Bố y... dân tộc thiểu số ở tỉnh Vân Nam phân bố đa dạng, một số dân tộc vừa có những nơi sống tập trung nhất định, lại vừa sống chung với các dân tộc khác; một số dân tộc tập trung cao độ ở một khu vực, một châu, thậm chí là trong một huyện, một xã. 25 dân tộc có số dân trên 5000 người và có khu vực sống tập trung nhất định. Có 10 dân tộc sống chủ yếu ở khu vực bằng phẳng và lưu vực sông biên giới gồm: Hồi, Mãn, Bạch, Nạp Tây, Mông cổ, Choang, Thái, A xương, Bố y, Thuỷ, dân số khoảng 450 vạn người; chủ yếu sống tập trung ở khu vực bán sơn địa có 8 dân tộc là Hà Nhì, Dao, La Khố, Wả, Cảnh pha, Bố lang, Đức ngang, Ki nô và một bộ phận người Di, dân số khoảng 500 vạn; chủ yếu sống tập trung ở khu vực núi có 6 dân tộc là Mông, Lisu, Tạng, Phổ mễ, Nộ, Độc long và một bộ phận người Di, dân số khoảng 400 vạn. Cả tỉnh không huyện nào chỉ có một dân tộc; riêng dân tộc Hồi và dân tộc Di thì tuyệt đại đa số các huyện trong cả tỉnh đều có.

3. Trình độ văn hoá

Năm 2006, cả tỉnh có 50 trường đại học, cao đẳng, chiêu sinh 9,56 vạn học sinh, tăng 13,1% so với năm trước; số học sinh hiện đang học tại các trường là 28,42 vạn, tăng 11,6% so với năm trước. Có 400 trường trung cấp chuyên nghiệp, chiêu sinh 12,87 vạn học sinh; số học sinh hiện đang học tại các trường là 32,52 vạn. Trường trung học phổ thông có 429 trường, chiêu sinh 20,47 vạn; số học sinh đang học tại các trường là 54,54 vạn. Trường trung học cơ sở có 1851 trường, chiêu sinh 65,57 vạn; số học sinh đang học tại các trường là 190,16 vạn. Trường tiểu học có 19752 trường, chiêu sinh 76,03 vạn; học sinh đang học tại các trường là 452,26 vạn. Tỷ lệ học sinh đến tuổi đi học nhập học vào các trường tiểu học đạt 96,6%, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp tiểu học học lên cao là 96,3%. Có 5 trường đại học tại chức với 12,32 vạn học sinh. Cả năm đã xoá mù được cho 13,3 vạn người.

KINH TẾ

1. Tổng giá trị sản xuất trong nước

Năm 2006, tổng giá trị sản xuất của tỉnh Vân Nam (GDP) đạt 400,187 tỷ NDT, tăng 11,9% so với năm trước. GDP bình quân đầu người đạt 8961 NDT, tăng 11,1% so với năm trước.

2. Tỉ trọng của các khu vực kinh tế trong GDP

Khu vực thứ nhất có giá trị gia tăng là 75,115 tỷ NDT, tăng trưởng 6,8%; giá trị gia tăng của khu vực thứ hai là 171,019 tỷ, tăng trưởng 16,9%; giá trị gia tăng của nhóm ngành nghề thứ 3 là 154,053 tỷ, tăng trưởng 9,1%. Tỷ trọng của các khu vực kinh tế 1, 2 và 3 là 18,8 : 42,7 : 38,5.

3. Kế hoạch xoá đói giảm nghèo

Thực hiện “5 công trình lớn”, cải thiện cơ sở hạ tầng ở khu vực khó khăn:

Một là, công trình cải tạo đất. Triển khai cải tạo đất canh tác trong đó chủ yếu là vỡ đất, sửa ruộng bậc thang, làm ruộng mới, xây dựng đồng ruộng “tam bảo” (bảo đảm đủ nước, đủ đất, đủ phân), thực hiện đồng ruộng có sản lượng ổn định bình quân 1 người/mẫu, sản lượng lương thực/mẫu vượt mức 300kg, giải quyết được vấn đề lương thực cơ bản.

Hai là, công trình trị thuỷ. Thông qua việc xây dựng hồ nước nhỏ, đập nước nhỏ, giếng nước nhỏ, mương nước nhỏ ở vùng núi và các công trình thuỷ lợi, công trình nước uống vừa và nhỏ cần thiết, giải quyết khó khăn về nước uống cho trên 400 vạn nhân khẩu và trên 300 vạn đầu gia súc, thực hiện bình quân mỗi người có khoảng 0,5 mẫu ruộng nước hoặc ruộng có nước tưới.

Ba là, công trình điện. Tăng cường xây dựng trạm điện vừa và nhỏ và xây dựng lưới điện, để 80% trong số 1866 thôn hành chính chưa có điện được nối điện.

Bốn là, công trình đường. Đẩy mạnh đầu tư xây dựng đường ở những khu vực khó khăn, để 80% trong số 2132 thôn hành chính của 8 xã, thị trấn chưa có đường quốc lộ được thông đường quốc lộ đơn giản.

Năm là, công trình màu xanh. Làm tốt việc phủ xanh đất rừng, làm tốt việc cải tạo bếp tiết kiệm củi, lấy điện lấy than thay củi, phát triển dùng khí mêtan, làm tốt công tác bảo vệ nước và đất, cải thiện điều kiện sinh thái.

4. Thu nhập tài chính

Năm 2006, tổng thu nhập tài chính đạt 88,7 tỷ NDT, tăng 16% so với năm trước.

5. Tình hình ngoại thương

Năm 2006, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trong toàn tỉnh đạt 6,23 tỷ USD, tăng 31,4% so với năm trước. Trong đó xuất khẩu đạt 3,39 tỷ USD, tăng 28,4%; nhập khẩu đạt 2,84 tỷ USD, tăng 35,1%.

6. Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài

Năm 2006, đã phê duyệt 204 dự án có vốn đầu tư nước ngoài, tiền vốn theo hợp đồng là 798 triệu USD; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực tế là 302 triệu USD, tăng 74,2% so với năm trước.

7. Các ngành chủ chốt

Vân Nam đã hình thành và đang xây dựng các ngành kinh tế chủ chốt là: ngành thuốc lá, ngành khai thác sáng tạo tài nguyên sinh vật, ngành khoáng sản, ngành du lịch và ngành điện lực.

HỆ THỐNG THÔNG TIN LIÊN LẠC

1. Tỷ lệ sử dụng điện thoại

Năm 2006, tổng lượng nghiệp vụ bưu chính viễn thông là 35,1 tỷ NDT, tăng trưởng 33,7%. Cuối năm, số thuê bao điện thoại cố định mới tăng thêm trong cả tỉnh là 465.000 thuê bao, đạt mức 6.442.300 thuê bao, tăng 7,8% so với năm trước. Tỷ lệ phổ cập điện thoại cố định đạt 14,48 máy/100 dân; thuê bao điện thoại di động mới tăng thêm là 1.692.300 thuê bao, đạt mức 10.680.700 thuê bao, tăng trưởng 20,4%.

2. Truyền hình

Tỷ lệ phủ sóng phát thanh và truyền hình đạt 92% và 93,7%. Có 57 đài phát thanh sóng ngắn và vừa, 15 đài phát thanh, 16 đài truyền hình, có 364 vạn thuê bao truyền hình cáp.

GIAO THÔNG

1. Đường sắt

Toàn tỉnh có 3 tuyến đường sắt điện khí hoá tiêu chuẩn quốc tế, 6 tuyến đường nhánh. Đường sắt có tổng chiều dài 2.927,853 km, lý trình vận hành 1.925 km. Tuyến Quý Châu – Côn Minh có tốc độ trung bình từ 60 – 80 km đã tăng lên 120 km, chấm dứt lịch sử tốc dộ đường sắt chưa từng đạt đến 100km tại tỉnh Vân Nam.

2. Đường bộ

Đã cơ bản hình thành mạng lưới giao thông đường bộ với thành phố Côn Minh là trung tâm (cửa ngõ) đi toàn tỉnh và các tỉnh xung quanh là Tứ Xuyên, Quý Châu, Quảng Tây, Tây Tạng, các nước láng giềng là Myanma, Lào, Việt Nam, Thái Lan. Lý trình thông xe quốc lộ đưa vào thống kê của nhà nước là 167.000km, trong đó đường cao tốc là 1.291 km, đường bộ cấp 2 trở lên là 3.326 km, đường bộ cấp 3 là 10.062 km, đường bộ cấp 4 là 96.197 km. Đường nông thôn và cấp huyện đã hoàn thành 2.465 km, nâng độ dài đường nông thôn lên 141.873 km.

3. Đường thuỷ

Cả tỉnh đã hoàn thành việc đầu tư 70 triệu vào xây dựng vận tải đường thuỷ, góp 2.549 km lý trình vào thống kê quốc gia. Cảng Cảnh Hồng đã được các bộ và tỉnh nghiệm thu, qui hoạch vận tải hàng hoá hàng năm là 100.000 tấn và 400.000 lượt người. Bến vận chuyển hàng hoá sông Kim Sa thông qua nghiệm thu có lượng vận chuyển hàng hoá hàng năm là 200.000 tấn. Việc xây dựng tuyến vận tải quốc tế ở hạ lưu sông Lan Thương thuộc công trình hành lang văn minh đường thuỷ cấp tỉnh đang chính thức khởi động.

4. Đường hàng không

Cả tỉnh có 10 sân bay dân dụng với trên 200 đường bay tới 92 thành phố như Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu, Thẩm Quyến, La-Sa... và 17 đường bay quốc tế tới Băng Cốc, Ran-gun, Viêng Chăn, Hồng Kông...

Ban quản trị
Sở Ngoại vụ tỉnh Hà Giang (tên cũ là Sở Ngoại vụ và Biên giới tỉnh Hà giang) được thành lập ngày 01/01/2004 trên cơ sở kiện toàn Ban đối ngoại (1993). Căn cứ theo Nghị định số 13/2008/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1119/QĐ-UBND ngày 16/4/2008 của Uỷ Ban nhân dân tỉnh Hà Giang, sở Ngoại vụ và Biên giới tỉnh Hà Giang đổi tên thành Sở Ngoại vụ tỉnh Hà Giang...
TIN NỔI BẬT
Bạn đến từ khu vực nào?
Hà Nội
Huế
Đà nẵng
TP. Hồ Chí Minh
Khu vực khác

Lượt truy cập: 3706068
Truy cập/ngày: 227
Online: 9
Thành viên: 0
Khách: 9


Sở Ngoại Vụ Tỉnh Hà Giang
Trưởng ban chỉ đạo: Ma Ngọc Tiến - Giám đốc Sở

Địa chỉ: Đường Trần Quốc Toản - Phường Nguyễn Trãi - Thị xã Hà Giang - Tỉnh Hà Giang
Điện thoại: (+84) 0219 3860215; (+84) 0219 3866533; (+84) 0219 3862852 - Fax: (+84) 0219 3866942 - Email: ngoaivuhagiang@vnn.vn

  Developed by AZNET